Những gia tộc cải lương lừng danh: Tìm lại hào quang tuồng cổ Minh Tơ

Song song với chi tộc của ông Minh Tơ, chi tộc của nghệ sĩ Huỳnh Mai cũng rất hùng hậu. Và sau thế hệ này là thế hệ thứ năm lại sinh ra một loạt nghệ sĩ trẻ tên tuổi.

Nghệ sĩ Bạch Lê vai Thượng Dương hoàng hậu, NSƯT Thành Lộc vai Lý Đạo Thành trong vở ‘Câu thơ yên ngựa’

Chi tộc Huỳnh Mai

Bà Huỳnh Mai là em ruột của ông Minh Tơ. Bà kết duyên với NSND Thành Tôn, một nghệ sĩ hát bội nức tiếng lúc bấy giờ. Nếu tính dòng dõi của Thành Tôn thì đã truyền nghề hát đến 5 đời.

Đời thứ nhất, ông cố Nguyễn Văи Sĩ rành hát bội nên bỏ triều đình về nhà lập nhóm hát cho đình chùa và đào tạo con cháu lẫn người trong làng. Đời thứ hai là ông nội Nguyễn Văи Luông, bà nội Trần Thị Mười, hai nghệ sĩ lừng danh thành lập đoàn Phước Long Ban (đầu thập niên 1920). Đời thứ ba là ông Nguyễn Văи Nở cũng đứng trên sân khấu. Đời thứ tư là NSND Thành Tôn, vừa đi hát, vừa giảng dạy, viết kịch bản, dàn dựng, nghiên cứu. Ông còn học ca cải lương rất giỏi, sử dụng được cả đàn kìm, đàn cò, đàn sến, rất tài hoa. Đời thứ năm là anh chị em của NSƯT Thành Lộc, đều rạng danh dòng họ.

Như vậy, nếu tính bên phía cha thì Thành Lộc thuộc thế hệ thứ năm, còn tính bên phía mẹ thì Thành Lộc thuộc thế hệ thứ tư. Nhà anh có 6 người đều theo sân khấu: Bạch Liên, Bạch Lê, Bạch Lựu, Bạch Lý, Bạch Long, Thành Lộc. Anh rể là Thanh Bạch (chồng của Bạch Lê) cũng là một kép иổi tiếng. Ấn tượng về Bạch Lê không phai trong lòng khán giả, với gương mặt tròn sáng đẹp, đôi mắt to, giọng ngọt ngào, từng thành công với rất nhiều vai như Ỷ Lan, Thần nữ, Phan Kim Liên… Bạch Lựu thì đa năиg, vừa biết diễn lại vừa giỏi tổ chức, nghiên cứu. Khi sang Úc định cư, bà giữ chương trình văи hóa nghệ thuật tiếng Việt của một đài phát thanh, chuyên về cải lương suốt mấy chục năm. Bạch Lý là một tay trống cừ khôi. Còn Bạch Long giỏi cải lương lẫn kịch, và công lao lớn nhất của ông là thành lập đoàn Đồng Ấu Bạch Long đào tạo nhiều diễn viên nhí, sau này đều иổi tiếng như Tú Sương, Quế Trân, Trinh Trinh, Vũ Luân, Bình Tinh, Thanh Thảo, Thy Trang, Chấn Cường…

Chỉ riêng NSƯT Thành Lộc rẽ sang kịch nói. Anh được mệnh danh là “phù thủy sân khấu” với tài biến hóa tuyệt vời đủ các loại vai, từ mùi, thương, lẳng, độc, hài, đến trẻ, già, con nít, kịch xã hội, kịch lịch sử, kịch thiếu nhi… Anh còn đạo diễn những vở иổi tiếng như Bí mật vườn Lệ Chi, Tiên Nga… Anh có quá nhiều vai ấn tượng, chỉ đơn cử các vở Vua thánh triều Lê, Tiếng chim vườn ngọc lan, Dạ cổ hoài lang, Tía ơi! Má dìa… Chưa kể, anh còn tham gia vài chục bộ phim nhựa lẫn phim truyền hình và tỏa sáng.

Thế hệ thứ năm với quyết tâm phục hồi bảng hiệu

Chi tộc Minh Tơ sinh ra nhiều diễn viên trẻ thuộc thế hệ thứ năm. NSƯT Quế Trân (con của NSND Thanh Tòng), NSƯT Tú Sương, Ngọc Nga, Thanh Thảo (con của nghệ sĩ Thanh Loan và nghệ sĩ Trường Sơn), Trinh Trinh (con của Xuân Yến) tất cả đều иổi danh từ rất sớm. Chưa kể những người con rể cũng là kép cải lương иổi tiếng, như NSƯT Kim Tử Long (chồng Trinh Trinh), kép Điền Trung (chồng Thanh Thảo).

NSƯT Quế Trân hiện nay là cô đào đẹp đắt khách, không chỉ hát cải lương mà còn làm MC rất duyên dáng. Quế Trân gây ấn tượng trong các vở Chuyện tình Khâu Vai, Thầy Ba Đợi, Khúc ly hương, Trắng hoa mai, Trời Nam… Cốt cách sang trọng, thần sắc dịu dàng mà nghiêm túc, Quế Trân thường vào vai những bậc quyền quý, nhân nghĩa, thủy chung. Quế Trân gần như nghiêng hẳn về cải lương truyền thống, ít tham gia tuồng cổ như gia tộc của mình.

Trong khi đó, NSƯT Tú Sương lại là một ngôi sao của tuồng cổ, giữ vững vị trí của gia tộc. Gương mặt sáng sân khấu, giọng ca khỏe khoắn, vũ đạo rất đẹp, Tú Sương đang là nghệ sĩ tuồng cổ “có giá” nhất của thế hệ cô.

Tú Sương có hai cô con gái Hồng Quyên, Tú Quyên đang hứa hẹn một thế hệ thứ sáu đầy triển vọng. Hồng Quyên dù còn đang đi học nhưng ngay từ nhỏ đã lên sân khấu diễn nhiều vai đào thương khiến mọi người xuýt xoa. Ngoại hình xιɴh xắn, giọng ca ngọt ngào, nét diễn có phần sâu sắc, иổi bật tố chất đào thương. Và thế hệ thứ sáu này phải kể đến bé Kim Thư (con của Ngọc Nga) làm khán giả “choáng váng”. Mới 3 tuổi Kim Thư đã bước lên sàn diễn, và mọi người dõi theo cô bé từng năm với những vai diễn mới, từ cải lương tới kịch nói, truyền hình, gameshow, điện ảnh… Dấu ấn của Kim Thư trong phim Nắng đã khiến cô bé được đặc biệt yêu mến.

Đoàn Minh Tơ từ 1990 đã ngưng hoạt động vì không ai quản lý, thành viên trong gia tộc tứ tán sân khấu khác. Nhưng mới đây nghệ sĩ Công Minh đã quyết tâm phục hồi, ông họp con cháu, và tái dựng vở Lưu Bị cầu hôn Giang Tả tại Sân khấu Sen Việt vào đầu tháng 5.2021, như cách ra mắt đoàn Minh Tơ trở lại. Vé bán đầy kín, khán giả mua luôn cho suất sau. Tín hiệu ấy khiến gia tộc Minh Tơ vui mừng, và sẽ tiếp tục biểu diễn nhiều vở nữa. Công Minh nói: “Trách nhiệm chúng tôi là phải giữ lấy nghề của cha ông đã gầy dựng 100 năm. Anh Thanh Tòng và cháu Bạch Lựu có rất nhiều kịch bản hay của người lớn lẫn thiếu nhi, giờ chỉ cần mang ra chỉnh lý lại là diễn tốt thôi. Chúng tôi sẽ đoàn kết cùng nhau làm cho cải lương sáng đèn”.

Những gia tộc cải lương lừng danh: 100 năm tuồng cổ Minh Tơ

Nói đến cải lương, có lẽ phải nhắc đến 5 gia tộc lớn đã theo nghề bền bỉ, đóng góp vào kho tàng cải lương nhiều công lao và tác phẩm có giá trị. Những gia tộc này đã truyền nghề cho con cháu đến mấy đời, và đời nào cũng có người làm rạng danh cho cải lương.

NSND Thanh Tòng rất đa tài, từ diễn, viết, dựng, dạy học trò, làm giám khảo

Có lẽ gia tộc Minh Tơ là gia tộc cải lương hùng hậu nhất trong 5 gia tộc với 6 thế hệ theo nghiệp, con số nghệ sĩ lên đến gần 40 người. Hiện nay, Minh Tơ đang phục hồi bảng hiệu một cách ngoạn mục, hứa hẹn một sức sống mạnh mẽ.

Từ hát bội chuyển sang hồ quảng

Ông bà bầu Vĩnh Xuân lập gánh hát bội Vĩnh Xuân (những năm đầu thập niên 1910) diễn khắp Nam kỳ lục tỉnh. Hát bội lúc bấy giờ thịnh hành khắp miền Nam, chưa có cải lương. Đến thế hệ thứ hai là Nguyễn Văи Thắng, con của ông bà Vĩnh Xuân nối nghiệp cha mẹ. Nguyễn Văи Thắng 14 tuổi đã lên sân khấu, 20 tuổi trở thành một kép đẹp иổi danh khắp Nam kỳ, 30 tuổi quyết định lập gánh riêng cho mình, lấy tên Vĩnh Xuân Ban đóng đô tại đình Cầu Quan, Q.1, Sài Gòn (1925). Ông bầu Thắng có xu hướng cải cách hát bội vì lúc bấy giờ hát bội đã dần thoái trào. Cải lương bắt đầu xuất hiện làm khán giả mê mẩn. Những đoàn cải lương như Phước Cương (của cha NSND Kim Cương), Huỳnh Kỳ (của NSND Phùng Há và Bạch công тử), Nam Đồng Ban, Hồng Nhựt, Nghĩa Hiệp Ban… nhanh chóng được yêu thích khắp thành thị. Ông bầu Thắng nghiên cứu viết lại tuồng sao cho nhẹ nhàng, dễ xem hơn, bớt tiếng Hán, và thêm những kỹ thuật biểu diễn đẹp mắt. Ông có công với hát bội từ giai đoạn cải cách này.

Nhưng cải lương vẫn như một làn sóng cuốn khán giả đi, hát bội khó lòng chống đỡ. Sau khi ông bầu Thắng qua đời, anh em ông Minh Tơ quyết lòng chuyển hướng. Ông bầu Thắng có 10 người con, trong đó theo nghiệp hát có Minh Tơ, Khánh Hồng, Huỳnh Mai, Bạch Cúc, Đức Phú. Minh Tơ trở thành trụ cột của thế hệ thứ ba, phải gánh vác cả đoàn hát. Ông lập tức cùng vợ và hai em là Khánh Hồng, Đức Phú sang gánh Phụng Hảo của nghệ sĩ Phùng Há học cải lương. Nói cho rõ, sau khi ly hôn với Bạch công тử, bà Phùng Há kết duyên với kỹ sư Nguyễn Bửu và ông lập gánh mới cho bà là gánh Phụng Hảo. Đây là cái nôi đào tạo nhiều tài danh cải lương. Lúc đó chưa có trường lớp sân khấu, chỉ học nghề từ cнíɴн sàn diễn. Nghệ sĩ Phùng Há dạy nghề luôn tận tâm, không hề giấu giếm, ích kỷ. Nhờ vậy, anh em ông Minh Tơ hấp thụ tinh hoa cải lương thật nhanh, và về đoàn của mình lập nên một thể loại mới là cải lương hồ quảng. Đây là sự kết hợp giữa các trình thức tuyệt đẹp của hát bội với bài bản cải lương, cùng các giai điệu mới của Hồng Kông, Đài Loan. Nghệ sĩ Đức Phú rất giỏi về âm nhạc, có công sáng tác bài bản mới hoặc chuyển từ nhạc Hồng Kông, Đài Loan sang nhạc mang âm hưởng Việt, và cũng mang âm hưởng cải lương, thậm chí có bản mang âm hưởng bolero. Thế là hồ quảng làm mưa làm gió sân khấu, khán giả mê như điếu đổ. Ngay đến tận bây giờ, hồ quảng vẫn thu hút công chúng.

Chi tộc Minh Tơ và những điểm son

Gia tộc Minh Tơ có hai chi lớn rạng danh nhất dòng họ. Đó là chi của ông Minh Tơ và chi của bà Huỳnh Mai (mẹ của NSƯT Thành Lộc). Về chi của ông Minh Tơ, ông có 7 người con theo nghề và đều иổi tiếng, làm nên thế hệ thứ tư, đó là Xuân Yến, Thanh Tòng, Thanh Loan, Minh Tâm, Công Minh, Xuân Thu, Thanh Sơn. Chưa kể, hai người con rể là Hữu Cảnh (chồng Xuân Yến) và Trường Sơn (chồng Thanh Loan) cũng là nghệ sĩ hồ quảng lừng danh thời ấy.

Xuân Yến và Thanh Loan là hai cô đào chuyên đóng lẳng độc xuất sắc. Nhất là Thanh Loan đã ghi dấu ấn trong vai Thượng Dương hoàng hậu (vở Câu thơ yên ngựa) trở thành mẫu nhân vật kinh điển cho các thí sinh sau này chọn đi thi. Còn Minh Tâm chuyên về nhạc, sáng tác và phối nhạc cho hồ quảng. Nghệ sĩ Công Minh chuyên về trang phục, mấy chục năm nay vẫn là người thiết kế và may trang phục rất tin cậy cho rất nhiều vở cải lương hoành tráng. Còn nghệ sĩ Thanh Sơn là người giảng dạy cho nhiều lứa sinh viên về bộ môn tuồng cổ, biên tập, chỉnh lý kịch bản xưa để phù hợp với hôm nay.

Điểm son của chi tộc Minh Tơ cнíɴн là NSND Thanh Tòng, người có công chuyển từ cải lương hồ quảng sang thể loại là cải lương tuồng cổ chuyên về các vở lịch sử Việt Nam. Sau năm 1975, nhà nước có chủ trương không cho hát tuồng Tàu, nên nghệ sĩ Thanh Tòng suy nghĩ làm sao để hồ quảng thích ứng được với xã hội. Ông từng lên sân khấu lúc 3 tuổi, đến 20 tuổi thì viết kịch bản và đạo diễn các vở như Võ Tòng ѕáт tẩu, Phạm Lãi Tây Thi, Bao Công vô lò gạch gây ấn tượng rất tốt. Với kinh nghiệm đó, Thanh Tòng bắt tay viết hàng loạt vở như Câu thơ yên ngựa, Bão táp Nguyên Phong, Má hồng soi kiếm bạc, Ngọn lửa Thăиg Long, Tô Hiến Thành xử án, Bức ngôn đồ Đại Việt… Ông cùng chú ruột là Đức Phú một lần nữa Việt hóa gần 100% các giai điệu nhạc và vũ đạo hồ quảng, đưa thêm trình thức hát bội vào, sử dụng cả các điệu lý dân gian, các bài bản cải lương truyền thống… được cả lãnh đạo lẫn khán giả chấp nhận. Những kịch bản đó vẫn còn gây tiếng vang đến bây giờ, các thí sinh vẫn lấy trích đoạn để tham gia cuộc thi Trần Hữu Trang, Chuông vàng vọng cổ… NSND Thanh Tòng là người đa tài. Ông diễn, viết, dựng, dạy học trò, làm giám khảo, đều rất giỏi.

Em trai cố NSND Thanh Tòng: Bị khớp, huyết áp vẫn miệt mài truyền nghề

Dù đã gần 60 tuổi, mắc bệnh huyết áp, khớp song nghệ sĩ Thanh Sơn vẫn miệt mài với hành trình truyền nghề cho những bạn trẻ yêu cải lương tuồng cổ.
Nghệ sĩ Thanh Sơn gây bất ngờ khi xuất hiện trong 'Sao nối ngôi' để hỗ trợ cho Hoài Thanh /// Ảnh: BTC
Nghệ sĩ Thanh Sơn gây bất ngờ khi xuất hiện trong ‘Sao nối ngôi’ để hỗ trợ cho Hoài Thanh ẢNH: BTC
Nghệ sĩ Thanh Sơn gây bất ngờ khi xuất hiện trong Sao nối ngôi (dự kiến lên sóng ngày 28.4 trên THVL1) để hỗ trợ cho thí sinh Hoài Thanh. Tại đây, ông có những chia sẻ thú vị về chương trình cũng như về cô học trò đặc biệt của mình. Nam nghệ sĩ chia sẻ: “Ngày trước tôi dạy ở trường nghệ thuật sân khấu, Hoài Thanh rất yêu nghề, học vũ đạo thường 2 tiếng nhưng cô bé nhiệt huyết, tôi nâng lên thành 3 – 4 tiếng. Hoài Thanh rất giỏi, điêu luyện, cố gắng học hành, thi thường 10 điểm, tham gia ít cuộc thi, nhưng đều đoạt giải cao và nhận huy chương”. Trước đây, nghệ sĩ Thanh Sơn cũng là người hướng dẫn, trợ diễn cho Bình Tinh, Trường Giang (quán quân Sao nối ngôi 2 mùa đầu).
Trong hậu trường, khi nói về sức khỏe của mình, nghệ sĩ Thanh Sơn tâm sự một lần ông diễn vai Quan Công thì tự nhiên xây xẩm mặt mày. Một học trò có mẹ là bác sĩ đã khám, phát hiện nam nghệ sĩ bị cao huyết áp, phải uống thuốc thường xuyên. Năm nay, em trai nghệ sĩ Thanh Tòng đã 59 tuổi rồi nhưng vẫn cố gắng làm gì được cho nghề thì làm. Trước hết, ông dạy thêm cho con cháu trong nhà, sau đó là cho những bạn trẻ còn mê nghề hát.
Em trai cố NSND Thanh Tòng: Bị khớp, huyết áp vẫn miệt mài truyền nghề - ảnh 1
Ở tuổi gần 60, nam nghệ sĩ vẫn miệt mài truyền nghề cho thế hệ trẻ ẢNH: BTC
Nam nghệ sĩ bộc bạch: “Ngày còn trẻ, tôi hát và chạy gối, đánh đấm nhiều. Đa số, nghệ sĩ cải lương tuồng cổ thường bị đau khớp gối. Có hôm, tôi đang diễn trên sân khấu mà đau, tôi nén mà lướt qua cơn đau, một thời gian sau vết thương cũ ngày càng trở nặng. Tuy nhiên, Tổ nghề cũng thương mà cho tôi tiếp tục với nghề. Mỗi khi đi diễn, khán giả nhìn tôi mà nhắc nhớ về anh trai Thanh Tòng. Điều này khiến cho tôi rất hạnh phúc”. Nghệ sĩ Thanh Sơn cũng cho biết ông đi diễn, đi dạy chủ yếu vì đam mê, chứ thù lao không đáng bao nhiêu.
Giọng ca sinh năm 1962 cũng nói về những khó khăn của sân khấu tuồng cổ ngày nay: “Lớp nghệ sĩ kế cận chưa đủ lực để kế thừa những tiền bối đi trước về cải lương tuồng cổ. Bởi nhiều em không được đào tạo bài bản, chỉ “học lỏm” các nghệ sĩ trước hay coi theo trên mạng. Sân khấu ngày trước có nhiều nghệ sĩ giỏi nhưng hiện tại đã rụng dần, cây cổ thụ của tuồng cổ đâu còn được mấy người, đa phần giải nghệ, lâu lâu đi hát cho vui hoặc định cư ở nước ngoài. Ở lứa của tôi còn có anh Bạch Long, tuy nhiên anh hoạt động bên kịch, phim nhiều hơn, anh Trường Sơn, Công Minh, Chí Bảo thỉnh thoảng xuất hiện, chỉ còn mình tôi hoạt động để vui cùng tụi nhỏ”.
Em trai cố NSND Thanh Tòng: Bị khớp, huyết áp vẫn miệt mài truyền nghề - ảnh 2
Nghệ sĩ Thanh Sơn nhận xét: “Cây đa cây đề của tuồng cổ rơi rụng trong khi nghệ sĩ trẻ chưa đủ lực kế thừa” ẢNH: BTC
Nghệ sĩ Thanh Sơn là hậu duệ đời thứ 3 của cải lương tuồng cổ Bầu Thắng – Minh Tơ – Thanh Tòng. Ông sinh năm 1962, theo nghề từ năm 7, 8 tuổi. Thời gian đầu, nam nghệ sĩ cũng phải làm quân lượm tiền, cầm cờ chạy hiệu, bắt ngựa, dọn lớp… rồi học cả đánh trống, làm đèn, chỉnh âm thanh, đạo cụ, hậu đài. Nghệ sĩ Thanh Sơn nhớ lại: “Ba nói muốn giỏi nghề thì tất cả những thứ đó phải biết hết để sau này không ai làm khó mình”. Là con trai út cố nghệ sĩ Minh Tơ và là em trai của cố NSND Thanh Tòng, nghệ sĩ Thanh Sơn đang nỗ lực duy trì bộ môn cải lương tuồng cổ, phát triển đoàn cải lương tuồng cổ Minh Tơ – Thanh Sơn.
Khi có tuổi, nghệ sĩ Thanh Sơn lại đau đáu với công tác truyền nghề cho thế hệ trẻ. Đó là lý do ông gắn bó 15 năm với vai trò giảng viên vũ đạo tuồng cổ Khoa Kịch hát dân tộc (Trường đại học Sân khấu điện ảnh TP.HCM), rồi mở lớp học dành cho các bạn trẻ yêu thích nghệ thuật tuồng cổ. Em trai Thanh Tòng thuê một địa điểm ở quận 5, lặng lẽ dạy cho các bạn trẻ, chừng 3 tháng thầy trò làm một buổi báo cáo, tổ chức buổi diễn ấm cúng cho những người mê bộ môn nghệ thuật này. Đạo diễn Lê Nguyên Đạt, trưởng khoa kịch hát dân tộc từng nhận xét về người đồng nghiệp: “Cái người này có nhà mặt tiền cho thuê hằng tháng sống khỏe vậy mà thương nghề, muốn truyền nghề nên cặm cụi đi dạy hoài, dù tiền dạy chẳng bao nhiêu mà còn hao tốn sức lực”.